27 thg 1, 2010

Bad professions


Theo tác giả này, 6 nghề sau đây bị cho là toàn những kẻ bất tài (nếu không nói là lừa đảo):

- Chuyên gia chứng khoán
- Chuyên gia (nếm) thử rượu
- Phê bình nghệ thuật
- Điều tra tội phạm (criminal profilers)
- Dự báo thời tiết
- Bình luận viên thể thao


Real vs nominal


Không có ví dụ nào đơn giản và dễ hiểu hơn cho những người không học kinh tế về sự khác biệt giữa real và nominal variables. Trong khi báo chí mấy ngày gần đây loan tin Avatar đã nhấn chìm Titanic trở thành bộ phim có doanh thu lớn nhất trong lịch sử (nominal), thực tế xét trên tổng số vé bán ra (real) Avatar mới xếp thứ 26 trong bảng xếp hạng các phim popular nhất trong lịch sử. Đấy là chưa kể phải control cho population growth và number of markets nữa (ngày xưa dân TQ đâu có được xem phim Hollywood).

Bản thân Titanic cũng chỉ đứng thứ 6. Thứ nhất là phim gì chắc nhiều người đoán được, nhưng chắc ít ai ngờ "The Sound of Music" đứng thứ 3.


Volcker rule


Tuần trước, TT Obama công bố một kế hoạch cải tổ hệ thống ngân hàng Mỹ với tên lóng là "Volcker rule", theo tên của Paul Volcker, cựu chủ tịch Fed và là người đã cố vấn cho Obama đưa ra kế hoạch cải tổ này. Về cơ bản đây là một dạng phục hồi lại luật Glass-Steagall ra đời năm 1933 và bị bãi bỏ một phần năm 1999. Một số bloggers cho rằng đây chỉ là một "political stunt" của Obama sau khi đảng Dân chủ mất ghế Senate Massachusetts vào tay Cộng hòa. Ngoài ra nó cũng giúp giảm bớt sức ép của dư luận và báo chí vào kế hoạch cải tổ healthcare mà Obama đang vật lộn để QH thông qua. Do đó, mặc dù được nhiều nhà kinh tế hoan nghênh, nhiều người nghi ngờ khả năng Volcker rule sẽ được thông qua.

Ngay cả khi Volcker rule trở thành luật, việc phân biệt giữa proprietary trading với các hoạt động hedging của bản thân một ngân hàng cũng rất khó khăn. Đưa ra một định nghĩa chính xác và đủ đơn giản để có thể giám sát là một điều không tưởng, chắc chắn sẽ có nhiều kiện tụng. Giả sử điều này thành hiện thực, việc ep buộc các ngân hàng từ bỏ hoạt động đầu cơ (speculation) có thể giảm rủi ro cho từng ngân hàng riêng rẽ nhưng chưa chắc đã giảm rủi ro cho toàn hệ thống. Vấn đề quan trọng là giảm tỷ lệ leverage trong hệ thống ngân hàng vẫn còn phải chờ Basel III, Volcker rule không đả động đến khía cạnh này. Thậm chí những vấn đề đơn giản hơn như qui định "mark to market" hay sử dụng định nghĩa capital như thế nào cũng không thấy nói đến trong đề suất này.

Volcker rule có đề cập đến hạn chế bank size, một biện pháp chống lại TBTF. Như tôi đã có lần đề cập về vai trò của các investment banks, nếu hệ thống ngân hàng bao gồm rất nhiều ngân hàng nhỏ thay vì một vài ngân hàng lớn, các ngân hàng này sẽ có nhu cầu vay/cho vay qua thị trường wholesale. Điều này sẽ kích thích sự phát triển của các investment banks/hedge funds, nghĩa là sẽ dồn rủi ro vào những công ty không/ít bị quản lý. Một counter-argument cho phương án này là kinh nghiệm cho thấy LTCM hay AIG đều không phải commercial banks nhưng có ảnh hưởng rất lớn vào độ ổn định của hệ thống ngân hàng. Nếu các ngân hàng nhỏ phải tham gia vào wholesale market, liệu họ có an toàn khi một vài player lớn trong market này phá sản như Bear Stearns hay Lehman Brothers vừa rồi?

Tóm lại còn khá nhiều câu hỏi (thuần túy về mặt chuyên môn) với Volcker rule. Không biết Obama team có trả lời các câu hỏi này không hay đề suất này sẽ rơi vào quên lãng hoặc bị biến đổi thành một vài qui định có tính hình thức để phục vụ cho nhu cầu "political marketing" như Simon Johnson nói.

Update (04/02): Felix Salmon chỉ ra 2 lỗ hổng quan trọng của Volcker rule. Thứ nhất là các commercial banks có thể sẽ quay lại investment bank status để tránh bị quản thúc bởi Volcker rule. Trong điều kiện bình thường các IB vẫn get funding from wholesale market, chỉ đến khi khủng hoảng xảy ra họ mới convert thành CB để được Fed trợ giúp. Như vậy phải quản lý cả IB, điều mà Volcker rule không đề cập đến. Thứ hai là cấm các banks không được own hedge funds, private equity funds nếu họ có tiền trong đó. Điều này quá dễ để các banks đối phó vì trên thực tế các funds đó hiện tại cũng manage tiền cho clients là chính, tỷ lệ own capital rất nhỏ.

Update (05/03): Hans-Werner Sinn cho rằng Volcker rule không phù hợp với hệ thống ngân hàng châu Âu.


26 thg 1, 2010

ACFTA


Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú vừa trả lời phỏng vấn SGTT, trong đó nêu bật lên ý Hiệp định thương mại tự do ASEAN-TQ (ACFTA) không phải là nguyên nhân dẫn đến thâm hụt thương mại của VN với TQ. Tôi chưa thể bình luận vì cần nghiên cứu thêm số liệu, nhưng một chi tiết ông Tú đưa ra để bảo vệ quan điểm của mình theo tôi chưa thuyết phục.

Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú nói năm 2001 53% kim ngạch nhập khẩu của VN từ TQ bị ảnh hưởng bởi ACFTA, trong khi năm 2007 chỉ còn 37%. Do đó không thể nói rằng ACFTA có ảnh hưởng xấu đến cán cân ngoại thương VN-TQ. Tuy nhiên lập luận này chỉ chính xác nếu kim ngạch nhập khẩu của VN từ TQ không thay đổi trong thời gian đó, hoặc tăng không nhiều. Thực tế con số này tăng từ $1.4b năm 2001 lên $12.7b năm 2007. Do đó kim ngạch nhập khẩu trong diện ảnh hưởng của ACFTA tăng từ $851m lên $4702m (gần gấp 6 lần). Tôi không biết marginal impact của việc giảm thuế nhập khẩu theo ACFTA như thế nào, nhưng rõ ràng với số kim ngạch tăng như vậy rất có thể ACFTA làm cán cân xấu đi chứ không như khẳng định của ông Tú.

Dẫu sao tôi vẫn ủng hộ free trade, việc VN bị thâm hụt thương mại với TQ chủ yếu vì các yếu tố khác chứ không phải ACFTA (vd tỷ giá VNĐ bị overvalued trong khi RMB undervalued.)


A great macro lecture




Update (01/02): Một blogger phân tích rất kỹ các chi tiết quan trọng trong đoạn video trên, rất nhiều ẩn ý đã được đạo diễn lồng vào chứ không đơn thuần là một bài rap.


Fed chairman IV


Chắc một số bạn còn nhớ thời những năm 80/90 ở các cơ quan, trường học VN thường phải viết các "bản tự kiểm". Bản tự kiểm của tôi hay có câu "Khuyết điểm của bản thân: Thiếu tinh thần phê và tự phê" :-). Tưởng những từ này đã lui vào dĩ vãng, vậy mà hôm nay thấy bác Krugman vừa phê bình bác Bernanke "không có tinh thần tự phê" (self-criticism), hệt như trong các cuộc họp chi đoàn/chi bộ ở VN trước đây. Choáng!

Như đã đề cập đến trước đây vài tuần, vấn đề reappointment của Bernanke tưởng như đã xong xuôi bỗng dưng có trục trặc vào giờ chót. Cho đến giờ này, chỉ còn chưa đầy 1 tuần nữa là nhiệm kỳ Chủ tịch Fed của Ben hết hạn (31/1) nhưng chưa có dấu hiệu nào cho thấy một cuộc bỏ phiếu trong US Senate được lên kế hoạch. Mà ngay cả nếu một cuộc bỏ phiếu như vậy được đưa ra, sau khi Democrats mất ghế Senate của Massachusetts vào tay Scott Brown, khả năng một cuộc bỏ phiếu như vậy bị filibuster hoàn toàn có thể xảy ra. Đặc biệt sau khi "Volcker rule" được Obama công bố, đã có tin đồn việc đưa Volcker trở lại là bước đầu tiên để Obama loại bỏ bộ ba Bernanke/Summers/Geither. Chưa rõ số phận Summers/Geithner thế nào nhưng các traders trên InTrade đã price xác suất Bernenke được reappoint giảm từ 95% xuống 80% chỉ trong 24 tiếng sau khi Volcker rule được công bố.

Ngay lập tức, giới econblog lên tiếng, đoàn kết một cách chưa từng thấy. Krugman, Mankiw, James Hamilton, Mark Thoma, Calculated Risk, Brad DeLong, Tyler Cowen đồng thanh kêu gọi reappointment cho Ben. Lập luận chính là Bernanke, tuy mắc sai lầm trước khủng hoảng, đã làm hết sức mình và làm rất tốt nhiệm vụ chủ tịch Fed trong giai đoạn 08-09, giải cứu thành công hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Mỹ/thế giới. Bây giờ khi khủng hoảng đã lắng xuống nhưng không nên/không thể thay thuyền trưởng khi thuyền vừa qua khỏi cơn bão. Phía trước vẫn còn nguy hiểm rình rập, liệu có ai có tay lái vững hơn Bernanke?

Alan Greenspan cũng lên tiếng support Ben, nhưng có lẽ tiếng nói hiệu quả nhất lại là Simon Johnson với lời đề nghị ... thay Bernanke bằng Krugman. Johnson thừa hiểu Republicans "ghét" Krugman như thế nào và chỉ cần 1% khả năng Krugman sẽ thay Bernanke cũng làm các thượng nghị sĩ Cộng hòa chấp nhận để Ben tại vị. Sau khi Johnson đưa ra "lời đề nghị khiếm nhã" nói trên, xác suất Ben được reappointed trên InTrade tăng vọt lên 94%. Ôi politics.

Update (27/01): Tiếp tục tin đồn về Geithner ra đi.

Update (28/01): Tối nay US Senate sẽ bỏ phiếu cho cloture (loại bỏ filibuster) và nếu thông qua sẽ bỏ phiếu cho Bernanke's reappointment. Nancy Pelosi đã kêu gọi các thượng nghị sĩ thông qua cloture dù có chống lại reappointment. Trong khi đó một cuộc khảo sát dư luận Mỹ cho kết quả như sau (ủng hộ/chống reappointment):
- Men: 40%/36%
- Women: 28%/39%
- High school and lower education: 22%/43%
- Uni educated: 39%/32%
- Postgrad educated: 41%/33%
- With 50K or more investment: 42%/37%
- Without investment: 28%/40%
Như vậy những người giàu, học vấn cao, và đàn ông có xu hướng ủng hộ reappointment.


Update (29/01): He got it: 77 votes for ending the filibuster and 70/30 for confirmation.


24 thg 1, 2010

Cap and trade


Tôi đã có lần thảo luận về cap-and-trade và Pigovian tax đối với vấn đề khí nhà kính ở đây. Trong bài viết đó tôi nghiêng về quan điểm của Mankiw nên sử dụng Pigovian tax thay vì cap-and-trade mặc dù về mặt lý thuyết hai biện pháp này tương đương nhau. Tuy nhiên khi đọc bài này của Richard Tol tôi mới biết thêm một số argument của phe ủng hộ cap-and-trade.

Về lý thuyết cap-and-trade và Pigovian tax tương đương nhau trong một nước, nhưng xét trên bình diện quốc tế thì 2 biện pháp này rất khác nhau. Trong bài trước tôi có trích dẫn một ý của Mankiw rằng nếu cap-and-trade không được thực hiện đồng bộ ở đa số các nước trên thế giới thì vấn đề khí nhà kính sẽ không thể giải quyết. Trong khi đó Pigovian tax có thể được đánh vào các hàng hóa từ các nước không chịu tham gia vào một hiệp định quốc tế giảm khí CO2. Ví dụ nếu TQ không cam kết giảm khí thải của mình thì Mỹ và các nước khác có thể đánh thuế lên hàng hóa của TQ. Tuy nhiên lập luận này nếu đúng cho Pigovian tax thì cũng đúng với cap-and-trade.

Trong khi đó Richard Tol chỉ ra rằng việc tạo ra carbon permit market ở các nước sẽ có tính lan tỏa vì các nước khác dù không có thị trường carbon nhưng private sector sẽ tìm cách "xuất khẩu" carbon credit của mình sang các nước khác. Ví dụ điển hình là các hoạt động CDM đang nở rộ ở các nước đang phát triển. Tất nhiên ngay cả khi các nước công nghiệp phát triển sử dụng Pigovian tax các CDM vẫn có thể được sử dụng để khuyến khích các nước nghèo bảo vệ môi trường. Tuy nhiên thiếu vắng một thị trường có liquidity tốt sẽ cản trở các hoạt động này phổ biến. Một điều rất rõ là CDM chỉ trở nên popular sau khi châu Âu đưa ra cap-and-trade và tổ chức carbon permit market. Hơn nữa, việc các nước giàu thiết lập cap-and-trade và cho phép carbon permit "fungible" (mua bán được ở các thị trường khác nhau) sẽ là incentive cho các nước nghèo tham gia vì họ sẽ có thể xuất khẩu permit trực tiếp chứ không phải thông qua CDM.

Một lập luận quan trọng của Richard Tol là supply và demand cho carbon credit ở các nước rất khác nhau, phản ánh marginal cost và (perceived social) benefit khác nhau. Do đó nếu sử dụng Pigovian tax thì sẽ khó có một tax rate thống nhất trên toàn thế giới và do vậy sẽ dể xảy ra trade conflict. Trong khi nếu sử dụng cap-and-trade với fungible permits thì vấn đề này sẽ được market giải quyết (lại market vs government :-)).

Tóm lại để chống lại hiệu ứng nhà kính một hệ thống cap-and-trade toàn cầu như ý định của Kyoto Protocal có lẽ là hợp lý nhất. Với những nước không đủ capacity để phát triển cap-and-trade (như VN) có thể tạm thời áp dụng Pigovian tax và tiếp tục dùng CDS để xuất khẩu carbon permits.