17 thg 9, 2011

Your First 100 Days As A Leader Will Make Or Break You


There are seven major onboarding land mines that you are likely to come across as a new leader and there are specific points in the first 100 days where you are most likely to encounter them, explain authors:
  • George Brant
  • Jayme A. Check
  • Jorge Pedraza
in their new third edition of, The New Leader's 100-Day Action Plan, in bookstores and online on October 10.

Ill-prepared, without a plan, and lacking proper onboarding, the land mines will get you.  And, if you miss one or more of the critical tasks that must be accomplished in your first 100 days, you'll likely fail.

The book is packed with:
  • Examples and case studies
  • Action plans
  • Tools, techniques and tricks of the trade
The authors also explain why you need to start even before your official first day on the job. For example:
  • Cultural engagement is extremely important in a successful transition; and it is essential that you know what your cultural engagement plan will be before walking in the door for Day One.
  • A new leader's role begins as soon as you are an acknowledged candidate for the job. Everything you do and say and don't do and don't say will send powerful signals, starting well before you even walk in the door on Day One.
By Day 30 share with your team:
  • Mission -- Why here, why exist, what business are we in?
  • Vision -- Future picture - what we want to become; where we are going.
  • Values -- Believes and moral principles that guide attitudes, decisions, and actions.
  • Objectives -- Broadly defined, qualitative performance requirements.
  • Goals -- The quantitative measures of the objectives that define success.
  • Strategies -- Broad choices around how the team will achieve its objectives.
  • Plans -- The most important projects and initiatives that will bring each strategy to fruition.
By Day 60:
  • Overinvest in early wins to build team confidence.
This must-read book for anyone in a new leadership role also includes:
  • A new approach called BRAVE on how to engage hearts and minds in the intended culture.
  • A 100-Hour Action Plan for crisis situations.

Note:  Thanks to the authors for sending me an advance copy of their book.

How To Write Your Introduction For Your Speech



If you are a leader who struggles writing introductions for your speeches, try these tips from Quick Study Academic (BarCharts, Inc.):

  • Prepare the audience to listen to your speech.
  • Start with a statement that will grab your audience's attention to draw them into your speech.
Ask a rhetorical question that does not require an answer.  Or, tell a good story.  Or, state something that will surprise your audience.  Perhaps surprise them with an amazing statistic.
  • Be sure your speech will be significant.  Motivate them to listen by telling them the reason the topic is relevant to their lives.
  • Tell the audience why you are qualified to give the speech to build your credibility.
  • State a thesis statement; a single declarative statement capsuling the central idea of the specific purpose of your speech.
  • Provide a preview by listing each of the main points you will cover in your speech.  Your preview can be combined with your thesis statement if you wish.
Memorize your introduction so you can maintain eye contact with your audience your entire introduction.

And, then, once into the body of your speech and if you use graphics or charts, remember that:
  • Bar charts compare one item to another
  • Line graphs show change over time
  • Pie charts compare percentages

14 thg 9, 2011

Answers To 5 Most Pressing Communications Challenges Leaders Face


Leadership communications expert David Grossman recently answered what I believe are some of the most pressing communications challenges leaders face today:

  • How to present to a diverse employee audience with a single presentation
  • How often a leader should communicate
  • What's the best way to deliver bad news
  • How to be sure employees receive a consistent message when leaders must rely on middle managers to deliver it
  • How to effectively communicate via e-mail versus phone
David's answers, published in his blog today on his website, are straight-forward, practical and actionable.  And, that's what I like most about David's approach -- in his books, on his blog and via his speaking engagements.

Thanks David!

Fusion Resorts to sign new five-star Fusion Maia property

VNRE - On the 1st of September 2011, Fusion Resorts (www.fusion-resorts.com) has signed its newest Fusion Maia property on a 50-hectare piece of beachfront land in Ham Tan (Binh Thuan province) with KTG Land. Not only do Fusion Resorts take the management of the resort on itself, but the Design and Development Company behind Fusion, Serenity Holding will also take a stake of 30% in the resort to guarantee its quality and sustainable development.

According to Marco van Aggele, CEO and Co-founder of Serenity Holding, “The addition of Fusion Maia Ham Tan to our chain will be very necessary to take tourism developments in South Vietnam to the next level. So far, the (mostly) low quality developments in Mui Ne and Vung Tau cannot satisfy the increasing demand of high-end hospitality accommodation. The large size of the property will allow a phased development of high-end hospitality and real estate product in the years to come. In the coming months, the in-house design team of Serenity Holding will work out a design concept that will need to fit to the innovative management style and services of Fusion. I am eager to present another distinct concept to the market very soon.”

Chairman and Co-owner of KTG Land, Mr. Dang Trong Ngon explained “with Fusion on-board I am more confident taking a project of this dimension in my portfolio, especially considering the current market conditions. I am glad the overall strategy is to develop the land in line with the market demand, which allows me to already receive good earnings on my initial investment in an early stage of the development”.

KTG Land is no unfamiliar face to Serenity and Fusion, as KTG Land is also the owner of Fusion Zana Phu Quoc, Fusion Suites Da Nang and soon to be signed Fusion Zana Nha Trang. After the recent successes of Fusion Maia Danang, Fusion Alya in Hoi An and La Gi, Serenity Holding has been receiving many requests to continue the expansion of the innovative resort chain within Vietnam. The first three outstanding properties are currently conquering the Vietnamese market with a fresh innovative ways of looking at hospitality concepts based on the market demand and the location’s characteristics. Ham Tan is one of those locations that the developers wish to add to the Fusion portfolio, especially because of the short distance to Ho Chi Minh City and the (near future) freehold status of the land.

Fusion Resorts gracefully spin around the concept of “fusion”, which lies in the unconventional combinations of elements that you hardly find elsewhere. All located in gorgeous locations in the culturally bounteous Vietnam, Fusion resorts infiltrate nature into contemporary design, spiritual wellbeing into luxurious conveniences. And on top of that is the people. The warmest of Vietnamese hospitality flows profusely from Hoi An, Dalat, Phu Quoc to La Gi, and other luxurious Fusion Resorts across the country.

Contact info: Fusion Resorts
Add: 30 Nguyen Van Mai street, Ward 4, Tan Binh District, Ho Chi Minh City
Phone: +84 8 3948 0950
Web site: www.fusion-resorts.com

11 thg 9, 2011

Deflation


Tôi vừa chuyển văn phòng sang một building mới, trong lúc rà soát lại đống tài liệu sách vở cũ tôi tình cờ tìm thấy một quyển sách của Gary Shilling xuất bản năm 1999. Cái tên Gary Shilling không quá xa lạ trong giới finance, ông nổi tiếng là một trong những perma-bear tương tự như Roubini hay Chanos, luôn bi quan về nền kinh tế và thị trường. Tuy nhiên tôi vẫn khá bất ngờ khi nhìn thấy tên của quyển sách là Deflation, một thuật ngữ đã trở nên phổ biến trong 1-2 năm lại đây nhưng không ngờ có người viết hẳn một quyển sách về nó từ hơn 10 năm trước.

Quyển sách gồm 4 phần. Từ chương 1 đến chương 13 Shilling đưa ra những lý do tại sao deflation sẽ quay lại sau gần 70 năm vắng bóng. Chương 14-20 tác giả phân tích những ảnh hưởng của deflation vào nền kinh tế thế giới. Phần tiếp theo, chương 21-28, là những lời khuyên của Shilling cho các nhà đầu tư khi phải đối mặt với deflation. Cuối cùng, chương 29-30, dành cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Ở đây tôi sẽ chỉ tập trung review phần đầu về những lý do mà Shilling cho rằng sẽ đẩy thế giới vào một giai đoạn deflation sau năm 1999, một quan điểm rất controversial thậm chí vào thời điểm này.

Trước hết phải nói ngay Shilling đã dự báo sai trong 4 chương 9-12 về những gì xẩy ra trong giai đoạn 2000-2010. Trong chương 9 tác giả này cho rằng đồng USD bắt đầu bước vào một thời kỳ lên giá so với cac đồng tiền khác. Shilling viện dẫn higher productivity và khả năng innovations của Mỹ là lý do chính, bên cạnh đó châu Âu và Nhật quá chậm chạp và có khuynh hướng socialist nên kinh tế sẽ tiếp tục tụt hậu so với Mỹ. Thực tế 12 năm qua hoàn toàn ngược lại, xu hướng mất giá của USD không thể chối cãi và chỉ bị một gián đoạn ngắn ngay sau khi khủng hoảng 2008 bùng phát. Theo tôi Shilling không nhận ra xu hướng đồng USD đang mất dần vị trí độc tôn là một đồng tiền dự trữ quốc tế. Tuy nhiên sai lầm chính của Shilling không phải ở chỗ đó mà là ông cho rằng deflation sẽ xảy ra toàn cầu trong khi nếu lập luận về đồng USD lên giá nếu đúng thì phần thế giới bên ngoài nước Mỹ sẽ bị sức ép lạm phát chứ không phải deflation, tỷ giá luôn là zero-sum.

Chương 10-11 Shilling rất bi quan về viễn cảnh kinh tế châu Á sau cuộc khủng hoảng 97-99. Thực ra ở thời điểm đó không mấy ai lạc quan, nhưng Shilling sai lầm khi cho rằng các nước châu Á sẽ khó có thể phục hồi bằng con đường export-led growth. Một trong những lập luận của ông cho rằng việc phá giá mạnh không giúp được mấy cho tăng trưởng xuất khẩu của châu Á là giá các loại nguyên liệu đầu vào phải nhập khẩu sẽ tăng nên cuối cùng hàng xuất khẩu cũng không cải thiện được sức cạnh tranh. Lập luận này cũng được nhiều chuyên gia của VN nhắc đến khi NHNN phá giá VND. Trên thực tế tất cả các nước mới nổi ở châu Á đều thoát ra khỏi khủng hoảng 97-99 và phục hồi mạnh nhờ vào xuất khẩu, thành công này có được một phần nhờ họ đã giữ tỷ giá nội tệ undervalued trong một thời gian dài. Riêng phần viết về TQ, Shilling chỉ ra những rủi ro mà hơn 10 năm sau Chanos/Pettis/Chovanec vẫn tiếp tục nhắc lại: real estate bubble, banking risk, low productivity in SOEs. Có lẽ Shilling không sai nhưng timing sớm hơn 10 năm như vậy không thể gọi là chính xác. Shilling cũng hoàn toàn sai lầm khi cho rằng đồng RMB sẽ bị sức ép mất giá, ông đã không nhìn thấy được TQ cũng như VN đã bị ảnh hưởng rất ít từ cuộc khủng hoảng 97-99 vì capital account còn đóng, điều mà Malaysia đã áp dụng thành công sau đó.

Nhận định bi quan về châu Á của Shilling một phần còn vì sai lầm trong chương 12 khi ông cho rằng tỷ lệ nợ của dân Mỹ đã quá cao và trong 10 năm tiếp theo người Mỹ sẽ chỉ có một con đường là tăng private saving trở lại để giảm nợ. Một lần nữa nhận định này "sớm" mất gần 10 năm vì phải đến sau năm 2008 với một cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ Great Depression báo chí và người dân Mỹ mới biết đến khái niệm deleveraging, một cách nói khác của giảm nợ và tăng saving. Thực ra Shilling phân tích đúng là người Mỹ đã sai lầm khi cho rằng giá cổ phiếu và nhà đất tăng cao là bằng chứng cho thấy "real wealth" của họ gia tăng nên không cần phải tiết kiệm từ income flow. Tiết kiệm trong thập niên 2000 được hiểu là phần "equity" mà người ta có được trong cổ phiếu và nhà đất - đây là khái niệm mà Edward Yanderni, một chuyên gia tài chính rất uy tín ở Wall Street, cổ súy trong giai đoạn này. Có lẽ người dân Mỹ đã tin vào Yanderni hơn là Shilling nên cứ "ăn chơi" thả giàn cho đến tận khủng hoảng. Thực tế những gì Shilling lo ngại vẫn tiếp tục xảy ra trong thập kỷ 2000, cả giá nhà đất và chứng khoán đều tăng mạnh bắt chấp bong bóng dot.com vỡ năm 2000-2001 dẫn đến real wealth của dân Mỹ không hề suy suyển.

Nhận định của Shilling trong chương 1 và chương 5, 6 cũng không chính xác, tuy nhiên có thể thông cảm được vì những chương này ít liên quan đến kinh tế. Chương 1 Shilling cho rằng government spending sẽ giảm trong những năm tiếp theo vì lúc đó đang là chu kỳ tư tưởng bảo thủ (conservatism) gia tăng, không chỉ ở Mỹ mà cả ở châu Âu. Tất nhiên chính trị là điều vô cùng khó đoán, chưa kể vụ 9/11 và 2 cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq, cho nên trái với dự báo của Shilling chi tiêu ngân sách của Mỹ không những không giảm mà còn tăng mạnh trong thời tổng thống Bush (con). Khi Obama lên nắm quyền tư tưởng Kyenesian quay trở lại với những gói giải cứu và kích cầu khổng lồ càng làm cái viễn cảnh zero debt xa vời. Chương 5, 6 cho rằng công nghệ và internet sẽ tiếp tục phát triển rất nhanh làm tăng productivity trên toàn thế giới, do đó sẽ gia tăng sức ép deflation. Đúng là công nghệ tiếp tục được cải thiện trong 10 năm đầu thế kỷ 21, nhưng tác động của nó lên mặt bằng giá toàn thế giới không đủ để bù cho cơn sốt commodity do TQ và các nước mới nổi tạo ra. Chưa kể giả sử công nghệ có phát triển đột biến thì ảnh hưởng lên mặt bằng giá do supply tăng sẽ bị offset phần nào vì ảnh hưởng lên demand do income tăng.

Những nguyên nhân khác của một tương lai deflation như globalization (chương 7, 8), trào lưu merger và restructuring (chương 3,4) có lẽ phản ánh đúng những gì xảy ra trong thập niên 2000. Tuy nhiên chương 2 về vai trò của central banks và chương 13 về tác động của bear market vào saving là 2 nhận định/phân tích rất chính xác của Shilling. Những gì xảy ra sau năm 2008 cho thấy phân tích trong chương 13 tuy "sớm" mất 7 năm vì giá nhà đất Mỹ đến tận 2007 mới bắt đầu giảm còn giá cổ phiểu sang 2008 mới chịu qua đỉnh nhưng rất chính xác. Ngay khi giá nhà đất và cổ phiếu sụp đổ, từ năm 2009 dân Mỹ buộc phải delevering và tăng tỷ lệ saving vì 2 lý do. Thứ nhất họ chợt nhận ra rằng họ không "giàu" như đã nhầm tưởng do đó phải cắt giảm chi tiêu. Suy thoái kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng cũng gián tiếp xóa đi ảo tưởng có thể tiêu sài phung phí rồi sẽ đi làm trả nợ từ từ. Thứ hai là ảo tưởng có thể nghỉ hưu sớm nhờ giá cổ phiếu/nhà đất gia tăng biến mất. Nhiều người phải quay về với thực tế là số tiền tiết kiệm cho tuổi già không đủ hoặc thậm chí đã mất sạch, do đó không còn con đường nào khác là phải tăng tiết kiệm.

Về vai trò của central banks, Shilling cho rằng có 2 nguyên nhân mà kể từ đó trở đi lạm phát sẽ không quay lại. Thứ nhất là khi các chính phủ cắt giảm chi tiêu như lập luận trong chương 1 thì money supply sẽ giảm và do đó sức ép lạm phát cũng giảm theo. Thứ hai là quan điểm điều hành chính sách tiền tệ của các central banks (lớn) đều chuyển sang chống lạm phát, dù Fed chưa thực sự theo đuổi inflation targeting, Alan Greenspan vẫn được cho là rất hawkish và sẽ tăng lãi suất bất kỳ khi nào có dấu hiệu lạm phát gia tăng. Thực ra hai lập luận này có điểm mâu thuẫn với nhau nhưng quả thật cho đến năm 2008 các central banks lớn như Fed, ECB, BoE, SNB, RBA đều rất thành công trong việc chống lạm phát, ngoại trừ BoJ  ở Nhật không có lạm phát để mà chống. Shilling chỉ ra một điểm rất quan trọng mà đến nay nhiều người mới nhận ra về tính không đối xứng trong chính sách tiền tệ. Đó là nếu lạm phát tăng cao thì các các central banks đã biết cách chống và có đầy đủ công cụ để chống, trong khi đó họ chưa được chuẩn bị, thậm chí chưa có "mentality" để chống deflation. Đây là điều mà nhiều người, nổi bật nhất là Krugman, cho rằng Fed và các central banks khác đang loay hoay trong liquidity trap vì monetary policy không/ít còn tác dụng.

Tóm lại deflation đã không xảy ra trong 10 năm sau ngày quyển sách xuất bản vì hầu hết các dự báo của Shilling không chính xác hoặc quá sớm. Trong giai đoạn này chi tiêu chính phủ vẫn tiếp tục tăng, tiết kiệm của dân Mỹ vẫn rất thấp, đồng USD mất giá dần dần, châu Á tăng trưởng mạnh dẫn đến giá nguyên/nhiên liệu tăng. Những chuyển biến về công nghệ, Internet, các structural changes trong nền kinh tế Mỹ và phương Tây, và cả globalization đã không đủ mạnh để kéo mặt bằng giá giảm xuống - dù rất có thể những yếu tố đó góp phần làm lạm phát không tăng cao trong giai đoạn này. Điểm thú vị là nếu quyển sách này xuất bản chậm lại 10 năm thì nhiều lập luận của Shilling sẽ có sức nặng hơn, điển hình là tỷ lệ tiết kiệm của dân Mỹ đang tăng lên hay chi tiêu chính phủ của Mỹ sẽ chựng lại vì trào lưu conservative đang mạnh dần lên. Có điều nhận định về đồng USD và vai trò của kinh tế châu Á, nhất là TQ, vẫn tiếp tục sai. Một điểm quan trọng nữa làm cho xác suất deflation không hề tăng so với năm 1999 là Ben Bernanke đã thay Alan Greenspan trong vai trò chủ tịch Fed - một deflation fighter thay cho một inflation hawk.


[Note: Tôi định viết full review cho quyển sách này nhưng những phần sau không có gì thú vị nên chỉ dừng ở phần đầu. McGraw-Hill tái bán quyển này năm 2002 còn Gary Shilling mới viết thêm một quyển nữa về deleveraging/deflation xuất bản năm 2010.]


10 thg 9, 2011

Quote For Aspiring Leaders


"It isn't where you came from; it's where you are going that counts" -- Ella Fitzgerald

The Difference Between A Mission And A Vision

Here's a good definition of the difference between a mission and a vision by leadership book authors George Bradt, Jayme A. Check and Jorge Pedraza:
  • Mission - A mission guides what people do every day.  It informs what roles need to exist in the organization.
  • Vision - A vision is the picture of future success.  It helps define areas where the organization needs to be best in class and helps keep everyone aware of the essence of the company.